Thông tin cây mật gấu

Thông tin cây mật gấu

Ở Việt Nam, Cây mật gấu mọc hoang, thường gặp ở một số tỉnh vùng núi cao và mát như Cao Bằng, Lào Cai (Phan Si Pan), Lai Châu, Bắc Kạn, Lâm Đồng (Lang Bian)…. Ngoài ra, còn có ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Nepal, Ấn Độ… Người ta dùng lá, thân, rễ và quả để làm thuốc. Thân và lá thu hái quanh năm, rửa sạch, phơi khô. Gỗ của thân và rễ có màu vàng nhạt.

Cây mật gấu là cây thuốc quý mọc chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc,đặc biệt là lai châu, sơn la.
Cây mật gấu có nhiều tác dụng nhưng vẫn chưa được mọi người biết đến vì khá hiếm và phải đi lên vùng cao mới có thể tìm được cây mật gấu.Trong cây có các alcoloid n
hóm benzyl isoquinolein: gồm berberin, berbamin, oxyacanthin, isotetrandin, palmatin và jatrorrhizin… Rễ còn chứa umbellatin (0,48%) và neprotin. Quả cũng có berberin và jatrorrhizin.
Cây mật gấu có thể cao 4 – 6m. Lá kép hình lông chim lẻ, mọc so le, dài 20 – 40 cm, mang 11 – 25 lá chét cứng không cuống, hình trái xoan hẹp, dài 6 – 10cm, rộng 2 – 4,5cm, gốc tròn, đầu lá nhọn như gai, mép có răng nhọn; gân chính 3. Lá kèm nhọn như hai gai nhỏ. Các cụm hoa ở ngọn thân, mang nhiều hoa màu vàng nhạt; lá đài 9, xếp thành 3 vòng; cánh ho 6, có tuyến ở gốc; nhị 6; bầu hình trụ. Quả thịt, hình trái xoan, đường kính khoảng 1cm, đầu quả có núm nhọn, khi chín màu xanh nâu, chứa 3 – 5 hạt. Mùa hoa: tháng 2 – 4, quả: tháng 5 – 6 cây mật gấu trị sỏi mật

Theo đông y, cây mật gấu có vị đắng, tính mát, vào 4 kinh phế, vị, can, thận; có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm làm se. Người ta thường dùng rễ hoặc thân sắc uống (10 – 20g), hay phối hợp với các vị thuốc khác để chữa kiết lỵ, viêm ruột, tiêu chảy, viêm gan vàng da, mắt đau sưng đỏ. Dùng lá hay quả (8 – 12g) sắc uống, Nó còn được dùng chữa sốt cơn, ho lao, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, chóng mặt, ù tai, mất ngủ. Dùng ngoài, nấu nước đặc để rửa, chữa viêm da dị ứng, lở ngứa. lợi tiểu,